Tour khuyến mãi

  • 03/10/2014 - 11:33 AM

    Thời gian: 9 ngày 8 đêm 

    Phương tiện: Đi Máy bay, Về Máy bay

    Giá tour: call

    Khởi hành: hàng ngày

  • 03/10/2014 - 11:34 AM

    Thời gian: 13 ngày 12 đêm 

     Phương tiện: Đi Máy bay, Về Máy bay 

    Giá tour: call

    Ngày khởi hành: Thứ hai, Thứ sáu hằng tuần 

  • 06/09/2014 - 3:31 PM

    Thời gian:5 ngày 4 đêm
    Khuyến mãi:
    01 đêm 5 sao tại Savan Vegas Hotel
    Khởi hành: hàng ngày
    Giá: Call

VIDEO CLIP

ĐIỂM DU LỊCH

vung tau

Địa danh du lịch - Điểm đến lý tưởng

Vũng Tàu

14:45:50 - 30/09/2014
du lich,Vũng Tàu
Vũng Tàu từng có tên là Tam Thắng để ghi lại sự kiện thành lập ba làng đầu tiên ở đây: Thắng Nhất, Thắng Nhị, Thắng Tam. Chữ tam Thắng là biến âm của Tam Thoàn ( tức Tam Thuyền ).

 Bà Rịa-Vũng Tàu


Là một tỉnh ven biển thuộc vùng Đông Nam Bộ, tiếp giáp tỉnh Đồng Nai ở phía bắc, Thành phố Hồ Chí Minh ở phía tây, tỉnh Bình Thuận ở phía đông, còn phía nam giáp Biển Đông. Thành phố Vũng Tàu hiện là tỉnh lỵ của tỉnh.
Vũng Tàu từng có tên là Tam Thắng để ghi lại sự kiện thành lập ba làng đầu tiên ở đây: Thắng Nhất, Thắng Nhị, Thắng Tam. Chữ tam Thắng là biến âm của Tam Thoàn ( tức Tam Thuyền ).
Đây là ba chiếc thuyền do ba viên đội chỉ huy bảo vệ bà con đường thuỷ vào Gia Định chống lại bọn cướp biển. Vào năm 1822 vua Minh mạng ban thưởng phẩm hàm và cấp đất cho họ khai khẩn lập làng làm ăn sinh sống. Đội thuyền thứ nhất do ông Phạm Đăng Dinh chỉ huy lập nên làng Thắng Nhất, đội thuyền thứ hai do ông Lê Văn Lộc chỉ huy lập nên làng Thắng Nhì, đội thuyền thứ ba do ông Ngô văn Huyền chỉ huy lập nên làng Thắng Tam.
Để nhớ ơn ông Phạm Văn Dinh là người đã lập ra khu đất này, người ta đã lấy tên ông đặt cho con sông duy nhất ở Vũng Tàu: sông Dinh và tên một dãy núi: núi Dinh ( Ngoài ra còn có một giải thích khác về tên của dãy núi Dinh: núi Dinh là núi Kho, thế kỷ XVIII các tướng lĩnh của chúa Nguyễn ánh xây dựng doanh trại trên núi này và Dinh còn có nghĩa là doanh trại. Dãy núi Dinh gồm các ngọn núi Dinh, ông Trịnh, Thị Vải. Sách Đại Nam Nhất Thống Chí ( thời Tự Đức 1829 - 1883 ) viết: "Vùng đất này xưa thuộc Phước nam Thắng cách Phước Thọ 31 dặm về phía Tây - Nam, là một mũi đất càng nhô ra biển càng lớn.
Phía Bắc mũi đất ôm giếng Ngọc, phía nam nối tiếp tới ghềnh Rái và che chở cho biển Cần Giờ một vịnh lớn được hình thành bởi các dòng sông, chảy ra biển, là chố yên ổn cho tàu thuyền trú ngụ...". Hẳn do địa hình như vậy nên Vũng Tàu còn có một cái tên khác là Thuyền áo ( áo của Thuyền ). Trong bản đồ dinh Trấn Biên của các chúa Nguyễn ( Thế kỷ XVII ) của cuốn Biên Hoà Lược sử toàn biên, Vũng Tàu ngày nay đã được ghi là Thuyền áo.
Đầu thế kỷ XVI trên bản đồ thế giới, Vũng Tàu có tên là : Cinco Chagas Veirdareiras ( Năm vết thương của chúa cứu thế ), sở dĩ họ gọi như vậy vì nơi đây có năm ngọn núi, người đi biển dễ nhận thấy từ ngoài xa, biểu tượng của niềm vui, của sự cứu giúp đối với họ. Các bản đồ hàng hải của người Bồ Đào Nha đều ghi Vũng Tàu là Cinco Chagas Veirdareiras. Nhưng khi cuốn hải trình nổi tiếng "Biển Phương Đông" (La Neptune Oriental) của một nhà hàng hải Pháp ra đời thì nó lại có tên là Cap Saint Jacques, có người giải thích đó là do cách đọc của các thuỷ thủ Châu Âu nên Cinco Chagas trở thành Silkei Chagas và cuối cùng là Saint Jacques.
(Theo nhà văn Nguyễn Tuân, Saint Jacques là tên một loài sò quen thuộc với người Pháp - Coquille Saint Jacques có mặt tại vùng biển này). Trong thời Pháp thuộc Vũng Tàu có một cái tên khác là Ô Cấp hoặc Cấp.

Cấp là phiên âm của tiếng Pháp au Cap trong câu Aller au Cap (đi ra mũi đất). Ô Cấp lúc đầu dùng để chỉ cả vùng đất Vũng Tàu.

Khi nói đến Vũng Tàu hay Ô Cấp, nếu để ý đến ngữ nghĩa của các từ sẽ thấy Vũng Tàu không giống như Ô Cấp, bởi Vũng Tàu là vùng nước sâu để cho thuyền đậu, còn Ô Cấp là mũi đất chạy nhô ra biển.
Nhưng chúng đều được dùng chung để chỉ một vùng đất  vùng biển. Ở đây khác nhau chỉ là cách đặt tên thao mũi đất  chỗ lồi hướng ra biển, người phương Đông đặt tên theo vũng chỗ lõm (hướng vào đất liền), thể hiện một tâm lý nào đó về cách nhìn ra thế giới bên ngoài.
Tỉnh Bà Rịa được thành lập tháng 12 năm 1899 trên địa bàn phủ Phước Tuy của tỉnh Biên Hòa.
Tháng 10 năm 1956, chính quyền Việt Nam Cộng Hòa lập tỉnh Phước Tuy gồm địa bàn tỉnh Bà Rịa và quần đảo Hoàng Sa.
Từ tháng 3 năm 1963 đến tháng 12 năm 1963 và từ tháng 11 năm 1966 đến tháng 10 năm 1967, chính quyền Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam sáp nhập tỉnh Bà Rịa với tỉnh Biên Hòa và tỉnh Long Khánh thành tỉnh Bà Biên.
Từ tháng 2 năm 1976 sáp nhập vào tỉnh Đồng Nai.
Từ tháng 5 năm 1979 lập Đặc khu Vũng Tàu-Côn Đảo.
Từ tháng 8 năm 1991 lập tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu gồm Đặc khu Vũng Tàu-Côn Đảo và một số huyện thuộc tỉnh Đồng Nai vốn thuộc tỉnh Bà Rịa trước kia.
Văn hóa và du lịch
Điều đặc biệt nhất của tỉnh là Bà Rịa-Vũng Tàu có 10 đền thờ cá voi, nhiều nhất ở miền Nam. Đương nhiên lễ hội Nghing Ông, hay Tết của biển, là một sự kiện quan trọng trong đời sống văn hóa và tâm linh của dân chài nơi đây.
Bên cạnh đó, tỉnh có ngày lễ Lệ Cô Long Hải từ 10/2 đến 12/2 âm lịch để thờ cúng Mẫu - Nữ thần và kết hợp cúng thần biển.
Bạch Dinh dọc theo bãi trước về phía Núi Lớn, chúng ta luôn trông thấy một dinh thự màu trắng, mái ngói đỏ sừng sững trên núi nổi bật trên nền xanh tươi của cây cỏ. Đấy chính là Bạch Dinh.

Bạch Dinh được người Pháp xây dựng năm 1898 đến năm 1916 dùng làm nơi nghỉ mát cho toàn quyền Pháp Paul Doumer và được gọi là Villa Blanche theo tên cô con gái yêu của ông ta, dân địa phương quen gọi Bạch dinh là biệt thự trắng.
Sau đó nhiều đời toàn quyền đông dương (người Pháp) cũng dùng Bạch Dinh làm nơi nghỉ nghơi giải trí nên gọi là Villa Dugouverneur (Dinh toàn quyền).
Sau này Ngô đình Diệm, Nguyễn văn Thiệu cũng lấy Bạch Dinh làm nơi nghỉ ngơi giải trí nên Bạch Dinh còn có tên là Dinh ông Thượng.
Phía trước Bạch Dinh hướng ra biển. Tại đây có thể nhìn bao quát cảnh bãi trước, núi nhỏ, núi lớn nhìn thẳng xuống ta sẽ thấy hòn Hải ngưu, đó là mũi đá nhỏ nhô ra biển có hình dáng một con trâu nằm dưới nước bây giờ Bạch dinh được là dùng nhà bảo tàng trưng bày cổ vật tìm được ở Hòn Cau - Côn Đảo.
Tượng chúa Kitô. Theo đường vòng núi nhỏ (đường Hạ Long) từ bãi trước qua bãi Dứa đến mũi Ninh Phong.
Tượng chúa được xây dựng từ năm 1972 những công trình bị bỏ dở, do yêu cầu cuả đồng bào giáo dân ngày 28 tháng 1 năm 1992 UBND tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu đã quyết định xây dựng tiếp công trình tượng chúa trên Núi Nhỏ. Sau hai năm xây dựng ngày 2 tháng 2 năm 1994 công trình đã được hoàn tất. Tượng chúa được xây dựng trên núi cao 136 mét và cao so với mực nước biển 176 mét. Tượng đài cao 31 mét, hai tay dang rộng 18,4 mét được đặt trên một ngôi nhà hình vuông có trạm trổ chúa và 13 tông đồ trên mặt tượng.
Phía trong bụng tượng có thể chứa được hàng trăm người đi trên 133 bậc thang được làm bằng đá mài. Từ hai tay của tượng ta có thể nhìn bao quát được toàn bộ thành phố Vũng Tàu.
Hải Đăng Vũng Tàu được xây dựng từ năm 1907, lúc đầu đặt ở mỏm thấp của núi nhỏ, thắp bằng dầu năm 1911 được xây dựng thành tháp tròn có đường kính 3 mét cao 18 mét được làm trên đỉnh cao nhất của núi nhỏ có độ cao 170 mét. 

Hải đăng Vũng Tàu dọi xa đến 35 hải lưu có kính viễn vọng để theo dõi tàu và hướng dẫn thuyền trên biển.
Vũng Tàu có hai hòn núi là Núi Lớn và Núi Nhỏ. Núi Lớn có diện tích khoảng 400 ha, có ba đỉnh lớn là Vũng Mây, Núi Lớn và Hòn Sụp.
Theo đường Núi Lớn (đường Trần Phú ) quanh sườn núi từ Bến Đình sẽ đến chùa Thích Ca Phật Đài, Bãi Dâu, đến Bãi Trước dài 10 km, đường dốc quanh co, trên là núi, dưới là biển, phong cảnh hữu tình, hùng vĩ lên thơ. Có nhiều thắng cảng dọc đường đi như tượng Đức mẹ, tượng Phật Bà Quan Âm, Bạch Dinh ...
Núi Nhỏ có diện tích khoảng 120 ha, đỉnh núi cao 170 m. Về truyền thuyết, Núi Nhỏ mang tên Tao Phùng kể về câu chuyện giữa người con gái vua Thuỷ Tề và một chàng trai làng chài.

Theo đường vòng Núi Nhỏ (đường Hạ Long) chạy từ bãi trước qua Bãi Ô Quắn, Bãi Dứa đến mũi Nghinh Phong và ra Bãi Sau dài khoảng 6 km. Đường mới, rộng và đẹp. Hai bên đường có nhiều điểm du lịch hấp dẫn như Bãi Trước, chùa Niết Bàn Tịnh Xá, tượng Chúa Kitô, Hòn Bà  ...
Lăng Cá Ông nằm trên đường Hoàng Hoa Thám , trong khuôn viên rộng và thoáng mát trong cả quần thể gồm đền thần Thắng Tam và miếu Bà Ngư Hành. Chuyện kể rằng, vào thế kỷ XIX có một đầu cá Ông rất lớn trôi dạt vào Bãi Sau. Đầu cá to đến nỗi không thể kéo lên bờ nên ngư dân địa phương phải lấy gỗ, tre rào lại cho thịt rữa hết rồi tháo từng khớp xương rửa sạch đem về thờ tại một miếu sơ sài tại Bãi Trước. Cùng thời gian đó ở Cần Giờ, có một thân cá và ở Long Hải có một đuôi cá dạt vào bờ. Do vậy trong giới ngư phù có một truyền thuyết cho rằng Cá Ông này là vị Tướng quân được Long Vương ra lệnh phải bảo vệ và giúp đỡ thuyền bè qua lại trong vùng biển này. Những vị Tướng quân này không hoàn thành nhiệm vụ khiến cho chiếc tầu bị đắm trong cơn bão tố, nên Long Vương nổi giận hạ lệnh chém làm ba khúc.
Đối với ngư dân khắp vùng biển phía Nam thì Cá Ông được xem là loài linh thiêng thường hay cứu giúp những con thuyền gặp sóng to gió lớn. Vì vậy mỗi khi có xác Cá Ông trôi dạt vào bờ, thì người đầu tiên trông thấy được coi là con trưởng nam, phải có bổn phận để tang và lo toan việc chôn cất xác cá thật chu đáo. Khoảng 40 năm sau lại có một xác Cá Ông lớn trôi vào Bãi Sau, dân làng được tin kéo tới đem xác cá lên bờ rồi chôn cất tử tế. Đến năm 1911, ngư dân địa phương chung nhau góp tiền xây một Lăng tại khu vực lăng hiện nay, rồi đào xương cá Ông này và dời xương cá Ông trước đó về thờ trong lăng. Từ đó Lăng được nhiều lần tu bổ và đến tháng 4 năm 1969 được sửa chữa có hình dáng như hiện nay. Giữa lăng là bàn thờ được trạm trổ công phu các hình long, ly, quy, phụng giao đầu, cá hoá Rồng giỡn sóng. Phía sau bàn thờ là ba tủ kính lớn đựng xương cá. Tủ bên trái đựng xương cá Ông nhỏ vớt được trong những lần sau. Ngày vua Ông (ngày Giỗ) được định vào ngày 16 tháng 8 âm lịch hàng năm.Vào ngày nay, ngư dânVũng Tàu kéo về làm lễ cúng bái rất linh đình, trọng thể
Cảng Cầu Đá được xây dựng tế năm 1896 nhằm phục vụ cho mục đích quân sự, đồng thời phục vụ cho việc bốc xếp về kho, hàng hoá phục vụ cho thành phố nghỉ mát và các căn cứ quân sự. 

Tiền cảng Vũng tàu là một con đê dài hơn 400 m, chân đê rộng 15 m, mặt đê rộng 4 m được kè bằng đá đổ bê tông chạy dài tế mũi phía bắc Núi Nhỏ ra giữa biển, song song với bãi trước. Đê cảng Vũng Tàu được kỹ sư Pháp thiết kế và thị trưởng Vũng Tàu lúc đó phê duyệt và thi công.
Tiền cảng được xây dựng và sử dụng chưa tới bảy năm đã hư hỏng do những tính toán sai lầm của người Pháp. Cùng với trận địa pháo trên Núi Nhỏ, Cầu Đá Bãi Trước hợp thành một quần thể di tích đã được Bộ Văn hóa Thông tin xếp hạng cấp quốc gia.
Hòn Bà là một hòn đảo nhỏ, dưới chân đảo sóng biển đánh tung bọt trắng xoá rất lên thơ, nằm phía ngoài biển theo đường hạ Long vòng Núi nhỏ, Từ Bãi Trước, qua Bãi Dứa đến mũi Nghinh Phong. Hòn Bà nằm cách chân Núi Nhỏ khoảng 200 m. Năm 1881 ông Hồ Quang Minh gốc miền Trung đã bỏ kinh phí ra xây dựng một ngôi miếu nhỏ trên đảo gọi là Miếu Bà.
Miếu Bà hiện nay có chiều cao nổi trên mặt đất là 4 m. Trong là điện thờ các vị thần linh. Bên dưới có một tầng hầm dài 6m rộng 3m, trước kia tếng là nơi hội họp bí mật của đồng bào yêu nước chống đế quốc. 
Khi thủy triều xuống thấp, có thể men theo một lối đá chập trùng để ra đảo. Ngày rằm hay mồng một, bà con thường ra đảo rất đông để thắp hương cầu may tại ngôi  miếu nhỏ này.
Suối nước nóng Bình Châu. Khu du lịch nước nóng Bình Châu nằm cách huyện Xuyên Mộc khoảng 30 km, theo quốc lộ 23. Nằm giữa rừng nguyên sinh rộng tới 7000 ha, một bầu nước sôi với hơn 70 điểm phín nước lộ thiên, vùng có nước  nóng hoạt động rộng hơn 1 km vuông, gồm nhiều hồ lớn nhỏ tạo thành các dòng chảy có lưu lượng nhỏ. vùng hồ rộng nhất khoảng 100 m vuông với độ sâu hơn 1m. Đây là điểm nóng nhất, nhiệt độ tầng mặt nước khoảng 64 độ và đáy nước là 84 độ. Những nơi nông, nước chỉ nóng khoảng 40 độ, có thể ngâm chân, tay để chữa bệnh.
Khu du lịch này đã được đầu tư thành nơi phục vụ đông đảo du khách trong nước và nước ngoài. Du khách có thể tắm nước nóng trong bồn tại phòng riêng hay chọn ở hồ hoặc tự nhiên giữa thiên nhiên tại các dòng mương dẫn nước khoáng nóng.
Di tích kiến trúc nghệ thuật nhà Lớn. Xã đảo Long Sơn (Thành phố Vũng Tàu) ngày nay còn bảo lưu nhiều phong tục tập quán cũ xưa với cảnh trí thiên nhiên phong thuỷ hữu tình cùng với những ngôi nhà kiến trúc theo lối cổ có sức hấp dẫn kì lạ với khách du lịch. Trong đó, quần thể Núi Nứa và khu di tích Nhà Lớn (Đền Ông Trần) hợp thành thắng cảnh độc đáo nổi tiếng.
Quần thể núi Nứa về phía đông của đảo, dài trên 6 km, bề ngang chỗ rộng nhất 2km. Đây là đoạn cuối cùng nhô ra biển của Dãy núi Phước Hoà. Dãy núi chiếm 30% diện tích của đảo lớn với ba đỉnh cao tạo thành thế chân vạc, cao nhất là đỉnh Bà Trao 183m, đỉnh Hố Rồng 120m và phía nam có đỉnh Hố Vông cao trên 100m. Trên đỉnh Bà Trao tọa lạc cột đá cao hơn 5m có tên là Hòn Một. Cách đó không xa hai khối đá dài bắc ngang tựa như con tàu biển nên gọi là Hòn Tàu. Với tổng diện tích 2ha, bố cục Nhà Lớn chia làm ba phần riêng biệt bao gồm: Khu đền thờ, nhà Long Sơn Hội, trường học, nhà chợ, nhà mát, nhà bảo tồn ghe sấm, dãy phố quanh chợ và lăng mộ ông Trần, người sáng lập ra tín ngưỡng khác lạ và tạo lập khu dân cư mới ở vùng đông nam đảo từ năm 1910 đến 1935. Khu vực đền thờ rộng 7.800 mét vuông với những công trình kiến trúc đồ sộ, trang nghiêm ... lầu cấm, tiền điện 2 tầng 8 mái, kế tiếp là nhà Thánh, Lầu Trời, Lầu Tiên, Lầu Phật (chính điện).
Khu di tích Nhà Lớn hiện đang lưu dữ nhiều sưu tập cổ vật quý báu : bộ tủ thời cẩn xà cừ, chạm khắc tinh xảo gồm 33 cái có nguồn gốc vùng Hà Đông (Bắc Bộ), bộ bàn ghế Bát Tiên  (Tương truyền của vua Thành Thái) đồng hồ cổ do Pháp chế tạo đầu thế kỷ XX.
Lịch sử xây dựng khu nhà Lớn đồng thời quá trình hình thành và phát triển của ấp Bà Trao. Vì vậy bố cục kiến trúc, nghệ thuật trang trí của di tích đã phần nào thể hiện nét tiêu biểu, đặc trưng của tín ngưỡng Ông Trần. Tín ngưỡng Ông Trần không có tính thuần tuý mà trong đó pha tạp nhiều đạo giáo khác nhau: đạo Phật, đạo Tin Lành, đạo thờ ông bà tổ tiên ...
Chùa Thích Ca Phật Đài. Thích Ca Phật Đài là một trong những ngôi chùa lớn nhất ở Vùng Tầu. Khu vực Chùa rộng 6 ha xây dựng trên sườn Núi Lớn.
Ngày 20/07/1961 chùa Thích Ca Phật Đài đã được khởi công xây dựng và được khánh thành trọng thể vào ngày 09/03/1963.
Kinh phí chùa do phật tử quyên góp. Một Bảo Tháp cao ba mét là nơi chứa di cốt của vị sư đầu tiên trụ trì ngôi chùa này, đó là ông Phù Vinh. Phía trên là ngôi Thiền Lâm Tự, nơi ở phật chính của chùa.
Trong chùa có nhiều bức tượng có tiếng như tượng Phật Đản Sinh diễn tả một hài nhi đứng trên toà sen, một tay chỉ trời, một tay chỉ đất. Truyền thuyết kể lại rằng Đức Phật là thái tử con vua ấn Độ được sinh vào năm 623 trước công nguyên. Nay sau khi chào đời thái tử bỗng vùng dậy và bước đi bảy bước, cứ mỗi bước của ngài có một bông sen nở ra đỡ láy bàn chân. Đứng trên bông sen thứ bảy, thái tử chỉ một tay lên trời, một tay xuống đất với ý nghĩa "Thiên thượng thiên ha hạ di nga độc tôn" hay tượng Cắt tóc đi tu là bức tượng một chàng trai dùng kiếm cắt tóc  diễn tả sựu tích sau : Năm 16 tuổi Thái  tử lập gia đình và cứ thế cuộc sống trôi đi  êm ả làm thái tử nhàm chán, chàng xin phép vua cha cho đi ngao du ngoài cung điện, và rồi qua những lần ra ngoài ngài đã biết được bức tranh toàn cảnh về đời sống con người từ lúc sinh ra đến lúc chết đi (Sinh, Lão Bệnh, Tử).

Đình Thần Thắng Tam. Đây là một quần thể kiến trúc gồm ba di tích gắn bó với nhau trong mối liên hệ mang sắc thái riêng của người đi biển - dân làng Thắng Tam. Đó là Đình Thần Thắng Tam,Miếu Bà Ngũ Hành và Lăng Ông Nam Hải (Cá Ông).
Đình làng Thắng Tam là biểu hiện đặc trưng văn hoá độc đáo của ngư dân miền biển  - Vừa có đặc điểm chung của đình làng Việt Nam , vừa có những nét riêng trong thờ cúng và sinh hoạt văn hoá - tín ngưỡng. Theo truyền ngôn Đình Thần Thắng Tam được xây dựng vào đời vua Minh Mạng(1820 - 1840). Hiện nay đình thần còn lưu giữ được 12 đạo sắc của nhà Nguyễn phong cho các vị thần được thờ tại đình. Ngoài những giá trị ý nghĩa lịch sử, văn hoá, Đình Thần Thắng Tam còn lưu giữ những lễ hội in đậm văn hoá dân gian và bản sắc dân tộc. 

Hàng năm Đình Thần Thắng Tam đều có tổ chức lễ hội cầu an trong  4 ngày từ 17 đến 20 tháng 2 Âm lịch.
Chùa Niết Bàn Tịnh Xá. Chùa Niết Bàn Tịnh Xá  còn gọi là chùa " Phật Nằm " được xây dựng trên sườn Núi Nhỏ, hướng mặt ra biển. Chùa được khởi công xây dựng vào năm 1969 và khánh thành vào năm 1974 bằng tiền quyên góp của đồng bào phật tử.
Thượng toạ Thích Thiện Huệ đại diện đứng ra lo toan việc xây dựng. Đây là một trong những ngôi chùa đẹp nhất Vũng Tầu với những đường nét kiến trúc hiện đại. Phía trước chính điện có một chiêc lư đồng lớn  với hình tượng bốn con vật trong  "Tứ Linh". Chiếc lư này là kết quả sau hơn hai năm lao động nghệ thuật miệt mài của một nghệ nhân ở tỉnh Bến Tre và đem tặng cho chùa năm 1971. 

Song song với lư ở hai bên là hai toà tháp cao khoảng 5m .Toà bên trái có tượng Phật A Di Đà, toà bên phải có tượng Phật Dược Sư. Hậu điện là nơi thờ Phật  Thích Ca và các vị tổ có công truyền bá Đạo Phật. Sau tượng Phật Thích Ca có treo một bức tranh vẽ hình "Đạt ma sư tổ".

Tìm hiểu thêm về